Nếu Kỳ 1 nhấn mạnh vai trò trung tâm của doanh nghiệp và nông dân trong hệ sinh thái AI nông nghiệp, thì ở Kỳ 2, ông Abraham Nguyễn Quang Huy – Chủ tịch Hội đồng Liên hiệp Kinh tế Toàn cầu (9S UNION), Phó Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp Quốc gia tiếp tục phân tích những điều kiện nền tảng mang tính quyết định, từ thể chế, dữ liệu đến nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đưa trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trở thành động lực thực chất cho nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trân trọng giới thiệu đến bạn đọc nội dung cuộc trò chuyện ngay sau đây.

PV: Theo ông, để AI thực sự trở thành “hạ tầng quyền lực mới” của nông nghiệp, đâu là những điều kiện tiên quyết về thể chế và chính sách?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Theo tôi, điều kiện tiên quyết là một chiến lược thể chế nhất quán và đủ dài hơi. AI và chuyển đổi số không thể phát triển trong tư duy “dự án nhiệm kỳ” hay phong trào ngắn hạn. Chúng ta cần luật chơi rõ ràng và ổn định: khung pháp lý cho dữ liệu, cho chia sẻ – bảo vệ quyền lợi, cho chuẩn truy xuất và cho mô hình kinh doanh số trong nông nghiệp.
Nhà nước nên đóng vai trò kiến tạo bằng cách mở hành lang thử nghiệm an toàn cho giải pháp mới, thúc đẩy hợp tác công – tư, đặt hàng theo kết quả và giảm rủi ro cho doanh nghiệp ở giai đoạn đầu. Khi thể chế đi trước một bước, doanh nghiệp và nông dân sẽ dám đi nhanh hơn; và khi đó công nghệ mới phát huy đúng vai trò là “đòn bẩy” cho phát triển.
PV: Dữ liệu được coi là “nhiên liệu” của AI. Theo ông, Việt Nam cần tiếp cận vấn đề dữ liệu nông nghiệp và môi trường như thế nào thưa ông?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Đúng như vậy, dữ liệu là “nhiên liệu” của AI. Nhưng trong nông nghiệp, dữ liệu còn là sinh kế và tài sản của người dân, là thông tin nhạy cảm gắn với đất đai và môi trường. Vì vậy, cách tiếp cận phải vừa mở để tạo giá trị chung, vừa an toàn để bảo vệ quyền lợi.
Tôi cho rằng cần xây dựng hệ thống dữ liệu nông nghiệp – môi trường theo chuẩn chung, liên thông từ trung ương đến địa phương, nhưng quản trị theo nguyên tắc: rõ chủ sở hữu, rõ quyền truy cập, rõ mục đích sử dụng và có cơ chế chia sẻ lợi ích. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, được cập nhật từ thực tế sản xuất và được chia sẻ có kiểm soát, AI mới thực sự giúp dự báo rủi ro, tối ưu tài nguyên và nâng năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.
PV: Theo ông, chính sách hiện nay cần điều chỉnh ra sao để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào AI và chuyển đổi số trong nông nghiệp?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Chính sách nên tập trung vào việc “giảm rủi ro – tăng niềm tin” cho doanh nghiệp trong giai đoạn đầu. Doanh nghiệp cần các cơ chế để thử nghiệm: đồng tài trợ nghiên cứu – thử nghiệm, ưu đãi tín dụng/tiếp cận vốn, ưu đãi thuế cho đầu tư công nghệ, và quan trọng là quyền tiếp cận hạ tầng số, dữ liệu và thị trường.
Song song, cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang cơ chế đặt hàng theo kết quả, ưu tiên các giải pháp phục vụ mục tiêu dài hạn như nông nghiệp xanh, tiết kiệm tài nguyên, kinh tế tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu. Khi chính sách ổn định, minh bạch và đo được hiệu quả, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư vì họ nhìn thấy “đường dài có ánh sáng”. Và điều quan trọng vai trò của cơ quan trung ương, thay vì để các địa phương tự “mày mò” đặt hàng các doanh nghiệp một cách dàn trải, thiếu nguồn lực, làm không tới nơi, tới chốn thì sẽ không hiệu quả mà bỏ lỡ thời cơ, mất cơ hội phát triển và mất thị phần, thị trường.
PV: Phát triển nguồn nhân lực cho AI trong nông nghiệp đang đặt ra những thách thức gì, thưa ông?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Thách thức lớn nhất là thiếu nguồn nhân lực “hai trong một”: vừa hiểu công nghệ, vừa hiểu ruộng đồng và thị trường. Nếu chỉ giỏi AI mà không hiểu mùa vụ, đất, nước, sâu bệnh và chuỗi cung ứng, mô hình sẽ sai ngay từ giả định. Ngược lại, nếu chỉ giỏi nông nghiệp mà thiếu dữ liệu và công cụ số, chúng ta khó tạo bứt phá.
Vì vậy, cần các chương trình đào tạo liên ngành theo tam giác công nghệ – nông nghiệp – kinh doanh, với sự tham gia cùng thiết kế của viện – trường và doanh nghiệp. Địa phương cần hệ thống khuyến nông số để chuyển giao “tại ruộng”, và lực lượng lao động nông thôn cần được nâng kỹ năng số từ cơ bản đến vận hành thiết bị. Khi con người được trang bị, AI mới có nơi để bám rễ và phát huy giá trị, đóng góp vào sự phát triển chung.
PV: Ông nhìn nhận thế nào về vai trò của chuyên gia, doanh nhân kiều bào trong tiến trình AI và chuyển đổi số nông nghiệp tại Việt Nam?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực tri thức, mạng lưới và chuẩn mực quốc tế rất quý cho chuyển đổi số ở Việt Nam nói chung và cho ngành Nông nghiệp và Môi trường nói riêng. Họ không chỉ mang về kỹ thuật, công nghệ, mà còn mang về kinh nghiệm, cách làm: quản trị dữ liệu, quản trị rủi ro, gọi vốn, tiêu chuẩn hóa và đưa sản phẩm vào chuỗi cung ứng, thị trường toàn cầu.
Nhưng để nguồn lực này “chạm đất”, cần cơ chế kết nối theo nhiệm vụ cụ thể: dự án rõ mục tiêu, đầu mối rõ trách nhiệm, quy trình minh bạch và quyền lợi rõ ràng. Khi kiều bào tham gia như đối tác đồng hành – cùng thiết kế, cùng triển khai, cùng đào tạo đội ngũ tại chỗ – tri thức sẽ được chuyển hóa thành năng lực nội sinh cho nông nghiệp Việt Nam. Kiều bào sẽ phát huy thế mạnh về đầu cầu kết nối hiệu quả nguồn lực và thị trường, đưa sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu dân tốc Việt chinh phục thị trường quốc tế.
PV: Theo ông, cần làm gì để huy động hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho AI nông nghiệp và bảo vệ môi trường?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Theo tôi, muốn huy động nguồn lực hiệu quả thì phải chọn đúng ưu tiên chiến lược. Nguồn lực dù lớn đến đâu cũng sẽ loãng nếu dàn trải. Vì vậy, cần tập trung vào những điểm có tác động hệ thống: dữ liệu dùng chung, hạ tầng số cho vùng nguyên liệu, công nghệ tiết kiệm tài nguyên, giám sát môi trường và nâng cấp chuỗi giá trị các ngành hàng chủ lực.
Tiếp theo là thiết kế cơ chế hợp tác đủ minh bạch để tạo niềm tin: hợp tác công – tư, cơ chế chia sẻ rủi ro, tiêu chí đo lường tác động và quản trị dự án theo chuẩn mực. Khi dự án có quản trị tốt và tác động rõ ràng, nguồn lực xã hội và quốc tế sẽ tự tìm đến – không phải vì khẩu hiệu, mà vì họ nhìn thấy hiệu quả, tiềm năng phát triển, đưa sản phẩm, thương hiệu Việt chinh phục thị trường toàn cầu. Nguồn lực hiện nay đang rất lớn và khả năng cạnh tranh hàng Việt Nam là rất cao.
PV: Nhìn về dài hạn, ông kỳ vọng AI và chuyển đổi số sẽ định hình diện mạo của nông nghiệp Việt Nam như thế nào thưa ông?
Ông Abraham Nguyễn Quang Huy:
Tôi kỳ vọng AI và chuyển đổi số sẽ giúp nông nghiệp Việt Nam chuyển từ “lao động nhiều” sang “quản trị thông minh”. Mỗi vùng nguyên liệu có hồ sơ dữ liệu; mỗi vụ mùa có dự báo; mỗi lô hàng có truy xuất; và mỗi quyết định canh tác được hỗ trợ bởi thông tin đáng tin cậy.
Khi đó, nông dân trở thành “nhà quản trị ruộng đồng” chứ không chỉ là người sản xuất; doanh nghiệp trở thành “nhà kiến tạo chuỗi giá trị” và nông nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh bằng chất lượng, minh bạch và chất lượng cao và tính bền vững. Đó là con đường để vừa bảo đảm an ninh lương thực, vừa tạo tăng trưởng xanh và nâng thu nhập cho người dân nông thôn, doanh nghiệp và khoa học và công nghệ, sáng tạo phát triển. Việt Nam chúng ta có thể đi trước, dẫn đường, đóng góp lớn cho thị trường và thị trường toàn cầu sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, giá trị lớn và phục vụ cho nhu cầu an sinh, an toàn cho nhân loại.

Qua hai kỳ phỏng vấn, có thể thấy AI và chuyển đổi số không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà là động lực tái cấu trúc toàn diện nông nghiệp Việt Nam. Khi doanh nghiệp, nông dân, chính sách và nguồn lực được kết nối trong một hệ sinh thái đồng bộ, nông nghiệp Việt Nam hoàn toàn có cơ hội bứt phá theo hướng hiện đại, xanh và bền vững trong kỷ nguyên AI.





















