Ngày 15 tháng 05 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Văn bản này do Cục Hải quan tham mưu Bộ Tài chính trình Chính phủ nhằm bảo đảm đồng bộ hệ thống pháp luật.
![]() |
| Hình ảnh minh họa |
Theo quy định, Nghị định số 169/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2026. Kể từ ngày văn bản này có hiệu lực, Nghị định số 128/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 và Điều 2 Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2021 hết hiệu lực thi hành.
Về cấu trúc, Nghị định số 169/2026/NĐ-CP gồm có 04 chương và 40 điều. Đối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Đối tượng áp dụng còn bao gồm người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Đáng chú ý, văn bản mới bổ sung một số trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính tại khoản 2 Điều 7. Đồng thời, bổ sung một số hành vi vi phạm tại các Điều 8, 10, 12, 13, 16 tương ứng với các quy định mới về trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức được bổ sung tại Nghị định số 167/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2025 của Chính phủ.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khái niệm tang vật vi phạm hành chính được bổ sung như sau: “2. Tang vật vi phạm hành chính là vật, tiền, hàng hóa có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính; không bao gồm vật, tiền, hàng hóa đã khai hải quan theo đúng quy định của pháp luật.”
Bên cạnh đó, điểm b khoản 4 Điều 10 quy định rõ: “b) Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi điểm d khoản 31 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 và khoản 13 Điều 1 Luật số 88/2025/QH15 mà cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.”
Đối với hành vi khai sai mã số, thuế suất, mức thuế của hàng hóa, khoản 5 tại Điều 15 quy định cụ thể: “5. Hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm đã được Bộ Tài chính, cơ quan hải quan hướng dẫn về mã số, thuế suất, mức thuế đối với hàng hóa có cùng tên hàng, mã số, thuế suất, mức thuế với hàng hóa vi phạm bằng một trong các hình thức sau: a) Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn về mã số, thuế suất, mức thuế; b) Cơ quan hải quan có thẩm quyền đã có thông báo kết quả phân tích, phân loại hoặc có văn bản xác định trước mã số, thuế suất, mức thuế; c) Cơ quan hải quan có thẩm quyền đã xác định mã số, thuế suất, mức thuế đối với hàng hóa và ban hành quyết định ấn định thuế hoặc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai sai mã số, thuế suất, mức thuế của hàng hóa đó.”
Về giấy phép và điều kiện kỹ thuật, khoản 7 Điều 19 quy định: “7. Giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật nêu tại Điều này là giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quy định tại Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định về giấy phép, điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; điều kiện về chủ thể kinh doanh mà thương nhân phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.”.
Để triển khai các văn bản của Bộ Chính trị, Nghị định bổ sung quy định tại Điều 33 và khoản 7 Điều 34 về thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân khi kết thúc quá trình điều tra đối với vụ việc không đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định tại Điều 37 về xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử cũng được bổ sung để thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Trước đó, một số quy định tại Nghị định số 128/2020/NĐ-CP đã được loại bỏ do không còn phù hợp gồm điểm b khoản 1 Điều 8 về khai sai so với thực tế về lượng, tên hàng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ, mã số hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp đối với tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng. Điểm đ khoản 1 Điều 9 về vi phạm quy định quản lý hàng hóa trong kho bảo thuế dẫn đến hàng hóa thực tế tồn kho thiếu so với chứng từ, sổ sách kế toán, hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và khoản 8 Điều 11 về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thực tế không đúng với khai hải quan về lượng, tên hàng, chủng loại mà không có chứng từ để khai bổ sung cũng được bãi bỏ.
Về điều khoản chuyển tiếp, quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành trước ngày 01 tháng 07 năm 2026 mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 67/2020/QH14, Nghị định số 128/2020/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định số 102/2021/NĐ-CP. Đối với hành vi vi phạm xảy ra và kết thúc trước thời điểm Nghị định số 169/2026/NĐ-CP có hiệu lực mà bị phát hiện hoặc xem xét ra quyết định xử phạt khi văn bản này đã có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định số 169/2026/NĐ-CP nếu văn bản mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn.























